Chuông Trống Mơ

và Chuông Trống Bát Nhă

Chánh Hạnh

*

I. Dẫn: Chuông, trống, mơ là pháp khí dùng trong nghi lễ Phật giáo, Phật tử chúng ta cần biết ư nghĩa và cách sử dụng thông thường, để có thể dùng được khi cần đến.

II. Các pháp khí:

1. Chuông: Tiếng Hán Việt là Chung, một pháp khí dùng thông thường nhất ở trong chùa và ở nhà cư sĩ.

Chuông biểu thị cho sự tỉnh giác, như trong bài kệ khi nghe tiếng chuông:

Văn chung thanh phiền năo khinh,
Trí huệ trưởng bồ đề sanh,
Ly dịa ngục xuất hỏa khanh,
Nguyện thành Phật độ chúng sanh.
Án, già ra đế da tóa ha
(3 lần)
Nghĩa là:

Nghe được tiếng chuông, phiền năo liền nhẹ,
Trí huệ thêm lớn, sanh tâm bồ đề

Ra khỏi địa ngục, vượt thoát hầm lửa,
Nguyện được thành Phật, để độ chúng sanh.
Án, già ra đế da tóa ha
(3 lần)

Theo như trong kinh Tăng Nhất A Hàm có chép: Mỗi khi nghe tiếng chuông ngân lên, th́ các h́nh phạt trong các ác đạo tạm thời dừng nghỉ, chúng sanh nào đang chịu những h́nh phạt ấy cũng được tạm thời an vui.

Trong chuyện Cảm Thông cũng có chép:

.. ."Ngày xưa khi đức Phật Câu Lưu Tôn ở tại viện Tu Đa La xứ Càng Trúc đă có tạo một quả chuông bằng đá xanh, thường vào lúc mặt trời vừa mọc, khi tiếng chuông ấy vừa ngân lên th́ trong ánh mặt trời ấy có các vị Hóa Phật hiện ra, diễn nói 12 bộ kinh, làm cho người nghe được chứng thánh quả không kể xiết".

Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật cũng bảo ngài La Hầu La đánh chuông để giảng cái lư cho Tôn giả A Nan nghe. V́ thế chúng ta có thể hiểu rằng, tại Ấn Độ chuông đă có từ thời đức Phật c̣n tại thế.

Hầu hết, người ta tin rằng nghi thức hành lễ trong các tự viện ở Việt Nam đều chịu ảnh hưởng nghi lễ của Phật Giáo Trung Quốc, do đó chuông trống mơ cũng phát xuất từ Phật giáo Trung Quốc. Đi t́m thời điểm chuông trống mơ đưa vào tự viện Trung Quốc lúc nào chưa được xác định.

Tuy nhiên, như sử liệu ghi lại, chuông đă được sử dụng vào thời nhà Chu (557 trước TL- 89 TL). Tài liệu về lịch sử của chuông quả thật là quư hiếm, dựa vào một số tài liệu sau để truy nguyên nguồn gốc của chúng. 

Cuốn Quảng Hoằng Minh Tập (số 2103) trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh ghi rằng vào thời Lục Triều (420 - 479) đă có nhiều lầu chuông. Năm Thiên Hoà thứ 5 (566) đời Bắc Châu, bài Nhị Giáo Chung Minh được khắc trên ba đại hồng chung lớn nhất thời bấy giờ. Hai cái trong 3 cái này được đúc vào năm 570 và 665 TL. 

Tục Cao Tăng Truyện có ghi năm thứ 5 đời Tùy Đại Nghiệp (609), ngài Trí Hưng nhận lo việc chuông tại chùa Thiền Định ở kinh đô Trường An. Trong khoảng thời gian này và trở về sau, Bắc Châu không ngừng đúc hồng chung để an trí trong các tự viện. 

Lại nữa, theo truyền thuyết cho rằng hồng chung là do Hoà Thượng Chí Công khởi xướng và vua Lương Vơ Đế (thế kỷ thứ VI) thực hiện để cầu nguyện cho các thần thức bị đọa trong chốn địa ngục mà người Hoa gọi là chốn U Minh. 

Trong bộ kinh Kim Cang Chí cũng có chép: "Vua Hiếu Cao Hoàng đế đời nhà Đường nhơn v́ nghe lời sàm tấu của Tống Tề Khưu mà giết lầm kẻ tôi trung tên là Ḥa Châu, nên khi chết bị đọa vào địa ngục. Một hôm có một người bị bạo tử (chết th́nh ĺnh) thần hồn đi lạc vào địa ngục ấy, thấy một tội nhân đang bị gông cùm, bị kềm kẹp đánh đập rất là khổ sở, hỏi ra th́ mới biết là vua Hiếu Cao nhà Đường. Vua gọi vị bạo tử ấy vào mà nói rằng: Nhờ ngươi trở lại dương thế nói giúp với hậu chúa rằng: Hăy v́ ta mà đúc chuông cúng dường và làm các việc từ thiện. Khi trở lại dương thế, người bạo tử liền đến yết kiến hậu chúa để chuyển lời nhắn nhủ của vua Hiếu Cao. Nghe vậy, hậu chúa liền thân hành đến chùa Thanh Lương phát nguyện đúc một quả chuông để cúng dường và cầu siêu cho Hiếu Cao Hoàng đế. (Tích nầy trong truyện Bách Trượng thanh quy, trang 68 và 87).

Trong Đường Thi có bài thơ của Trương Kế (thời Thịnh Đường), tả một đêm nằm trong thuyền, nghe tiếng chuông chùa Hàn San vọng lại. Bài thơ là một tuyệt tác, có liên quan tới chuông, chùa và thời gian, đă gây nhiều tranh luận, tưởng cũng nên chép ra đây:

Nguyệt lạc ô đề sương măn thiên,
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn sơn tự,
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Tản Đà dịch:

Trăng tà tiếng quạ kêu sương,
Lửa chài, cây bến sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đê
m nghe tiếng chuông chùa Hàn san.

Nguyễn Hàm Ninh dịch:

Quạ kêu, trăng lặn, trời sương,
Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Hồ Điệp ngâm lại:

Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến c̣n vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đê
m nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Ngô Tất Tố dịch:

Quạ kêu, sương tỏa, trăng lui,
Đèn chài, cây băi, đối người nằm khô
Chùa đâu trên núi Cô Tô
Tiếng chuông đưa đến bến đ̣ canh khuya

Trần Trọng Kim dịch :

Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi,
Lửa chài, cây bải, đ
ối người nằm co.
Con thuyền đậu bến Cô Tô,
Nửa đê
m nghe tiếng chuông chùa Hàn sơn

Trần Trọng San dịch:

Quạ kêu, trăng lẩn sương trời,
Buồn hiu giấc ngủ lửa chài bến phong
Đêm Cô Tô vẳng tiếng chuông
Chùa Hàn San đến thuyền sông Phong Kiều.

Lư Nhược Tam dịch:

Ô đề trăng lặng sương giăng,
Đ
èn câu thức bóng lăn tăn gợn sầu
Hàn Sơn Tự, đất Tô Châu
Chuông khuya vọng đến Phong Kiều thuyền neo.

Hữu Nguyên dịch:

Quạ kêu, trăng lặn, ngút trời sương
Phong băi, đèn câu đắm mộng trường
Đê
m vắng Cô Tô thu
yền khách đậu
Chuông Hàn San tự thoảng đưa sang.

Huệ Thu dịch:

Trăng ch́m quạ khóc trời sương
Đèn chong cây lặng nghe buồn miên man
Cô Tô phố ngoại chùa Hàn
Nửa đêm chuông đổ rớt sang thuyền chờ .

Do chuông không bao giờ thỉnh vào nửa đêm hay giữa khuya, như vậy th́ tác giả Trương Kế đă sai, nhưng người ta thường nghĩ thi sĩ th́ phải có nhận xét, ghi chép đúng, vă lại chữ bán dạ mới hay, cho nên người sau đặt ra chuyện cho hợp lư với bài thơ: "Có nhà Sư trụ tŕ chùa Hàn San, một đêm vào mồng 3 hay mồng 4 ngẫu hứng cảm tác thành thơ:

Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung
Bán tự ngân câu bán tự cung.

Rồi hết ư, loay hoay không t́m ra hai câu kết. Cũng đêm ấy có chú tiểu ra ngoài, nh́n thấy trăng in bóng dưới vũng nước. Lúc trở vào thấy Thầy ngồi tư lự, mạn phép hỏi thầy về cớ sự, sau khi được Thầy cho biết, chú nhớ mảnh trăng ḿnh vừa mới gặp, nửa in dưới nước nửa cài trên không, nên xin được dâng thầy hai câu kết:

Thùy bả ngọc hoàn phân lưỡng đoạn
Bán trầm thủy để, bán phù
không.

Thầy cũng vừa ư với hai câu kết, cả hai Thầy tṛ hoan hỷ nên lên Chánh điện dâng hương tạ ân Phật, đồng thời thỉnh chuông, nên mới có tiếng chuông vào lúc nửa đêm, vang đến thuyền của thi sĩ Trương Kế."

Thi sĩ Cao Tiêu dịch bài thơ trên:

Trăng non mùng bốn mùng ba
Nửa như móc bạc, nửa là cánh cung.
Ai đem bẻ nửa chiếc ṿng
Nước in một nửa, trên không nửa cài .

Nhưng mà đâu phải thi sĩ hay thi hào, thi bá là có nhận xét đúng, cũng trong thi văn Trung Hoa có giai thoại sau:

Có lần Tô Đông Pha đọc thơ Vương An Thạch tự Giới Phủ danh nho học rộng, tài cao, giữ chức Tể tướng dưới triều Tống Thần Tông, một người đi trước và lại đang làm quan đầu triều, thấy câu:

Minh nguyệt sơn đầu khiếu
Hoàng khuyển ngọa hoa tâm

Tô Đông Pha bèn chê là vô lư: trăng sáng sao lại hót được ở đầu núi, chó vàng sao nằm giữa ḷng hoa cho được? Chê xong, sửa ra:

Minh nguyệt sơn đầu chiếu,
Hoàng khuyển ngọa hoa âm
.

Trăng soi đầu núi chó nằm bóng hoa th́ hợp lư, và bài thơ hay quá!

Về sau Tô Đông Pha gay gắt chống tân pháp của Vương An Thạch nên bị đày xuống miền cực Nam. Đến đất ấy, Tô Đông Pha mới biết có một loại chim gọi là "Minh nguyệt" và một loại sâu là "Hoàng khuyển"!

Trở lại với chuông, có ba loại thường được sử dụng trong các chùa chiền, tự viện như sau: 

a. Phạn Chung: Gọi là Phạn chung, nguyên ủy các tự viện dùng chuông để báo giờ thọ trai cho các chúng tăng chấp tác chung quanh chùa, biết giờ giấc nghỉ tay mà thọ trai, cũng gọi là "đại chung”, “hồng chung”, “hoa chung” hoặc “cự chung". Chuông này được đúc bằng đồng xanh pha ít sắt. Thông thường chuông cao khoảng 1,5m, đường kính khoảng 6 tấc. Loại này treo trong lầu chuông, mục đích thỉnh chuông là để chiêu tập đại chúng hoặc báo thời sớm tối. Người Việt ḿnh thường dùng từ "đại hồng chung" chỉ cho loại chuông thật to, gần như không c̣n có quy định cụ thể là rộng hẹp bao nhiêu nữa. Chuông này c̣n gọi là chuông U Minh. 

Lại có loại chỉ lớn bằng 1/2 chuông phạn, nên gọi là bán chung, c̣n được gọi là "hoán chung" hoặc "tiểu chung." Chuông này thường được đúc bằng đồng, cao khoảng 6 đến 8 tấc, thường để tại 1 góc trong chánh điện và được sử dụng trong các buổi pháp hội, nên c̣n có tên khác là " hành lễ chung." Người Việt Nam cũng như các nước khác ngày nay cũng linh động chế tạo nhiều loại chuông dạng "bán chung" này, nhưng cũng không có kích thước cố định. 

b. Bảo chúng chung: Cũng gọi là chuông Tăng đường, tức là chuông nhỏ, chỉ một người xách lên được. H́nh thái cũng như chuông U minh, được treo ở trai đường, dùng để báo tin trong lúc họp chư Tăng biết vào những lúc: Họp đại chúng, thọ trai, giờ chấp tác, giờ bái sám trong các tự viện.

c. Gia tŕ chung: Loại chuông nầy dùng để đánh lên trong lúc tụng kinh bái sám. Tiếng chuông gia tŕ được sử dụng trước khi tụng kinh hay báo hiệu sắp hết đoạn kinh đang tụng hay câu niệm Phật. Cũng thường đánh lên khi lạy Phật một ḿnh. C̣n khi đông người th́ để báo hiệu cùng lạy cho nhịp nhàng. Chuông gia tŕ có đủ ba loại lớn, vừa và nhỏ. Chuông vừa và nhỏ th́ thường thường Phật tử tại gia dùng nhiều hơn và cũng dùng như chư Tăng.

Ngoài ra, trong thời cực thịnh của Thiền Tông, chuông an trí tại thiền đường, trai đường gọi là “tăng đường chung”, “trai chung"; chuông để tại chánh điện gọi là "điện chung”… Những vị lo việc chuông này gọi là "chung đầu."

Về thỉnh chuông, xưa ở Trung Quốc tùy mỗi Tông phái, từng địa phương mà quy định có khác nhau, nhưng tổng quát là khi bắt đầu thỉnh 3 tiếng và khi kết thúc đánh nhanh 2 tiếng hoặc 3 hồi chín tiếng cho các loại chuông nhỏ khi tụng kinh. Số lượng tiếng thường là 18, cũng có khi thỉnh 36 tiếng, 108 tiếng. Thỉnh 108 tiếng biểu thị hành giả nỗ lực làm vơi cạn đi 108 loại phiền năo nơi nội tâm. Mười tám tiếng là biểu thị sự thanh lọc 6 căn, 6 trần và 6 thức. 

Theo niềm tin cho rằng tiếng vang của chuông có thể thấu đến cơi địa ngục u ám, chúng sanh nào bị đọa nơi địa ngục nhờ nghe tiếng chuông này liền được giải thoát. Lại nữa, tiếng chuông thanh thoát của chùa có thể giúp cho loài quỷ đói được nhẹ bớt ḷng tham lam, sân hận mà giải thoát khỏi kiếp ngạ quỷ. Ở các ngôi chùa Việt Nam hiện nay cũng như các chùa Trung Quốc thời xưa hoặc các chùa thuộc các nước theo Phật giáo Đại Thừa như Nhật Bản, Triều Tiên. ...thường có quả chuông lớn để thỉnh vào hai buổi sáng tối trong ngày khi cầu nguyện. Giờ thỉnh chuông buổi sáng lúc 4 giờ hoặc trước thời công phu buổi sáng, giờ thỉnh chuông đầu hôm là lúc trời nhá nhem tối, tùy theo quy định của mỗi chùa.

Tiếng chuông đánh đầu hôm là nhắc nhở cho mọi người biết rằng cơn vô thường đến với chúng ta không hứa hẹn, rất ngắn ngũi, nhanh chóng. Đánh vào lúc ban sáng là nhắc nhở cho mọi người cố gắng tinh tiến tu hành để mau vượt thoát ra khỏi cảnh đau khổ, không vướng mắc cảnh tội lỗi và dễ dàng ra khỏi luân hồi sanh tử. Người thỉnh chuông vừa đánh chuông vừa đọc bài kệ: 

Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới, 
Thiết vi u ám tất giai văn. 
Văn trần thanh tịnh chứng viê
n thông, 
Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác.
 

Nghĩa là: 

Nguyện tiếng chuông này khắp pháp giới, thiết vi u ám cùng nghe được, căn cảnh thanh tịnh chứng viên thông, hết thảy chúng sanh thành chánh giác. (Bản dịch của Ḥa Thượng Trí Quang, LUẬT SA-DI, SA-DI-NI, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản, 1989). 

Dịch thơ: 


Nguyện tiếng chuông vang rền pháp giới 
Chúng sanh ngục Sắt thảy đều nghe 
Tiếng đời sạch, chứng được viên thông 
Tất cả muôn loài đều giác ngộ.
 

(Thích Nhật Từ dịch)


Tiếng chuông nguyện vang rền các cơi 
Núi Thiết Vi tăm tối nghe hay 
Âm thanh đời lắng sạch thay 
Chúng sanh giác ngộ, tỏ bày an nhiên.
 

(Thích Nhật Từ dịch)

2. Trống: Tiếng trống tượng trưng cho chánh pháp. Chúng sanh mỗi khi nghe tiếng trống chánh pháp ấy th́ tội chướng được tiêu trừ và cũng nhờ đó mà được giải thoát vào cảnh giới an lạc.

Trống là một trong những loại nhạc khí, thường làm bằng đá, cây, đồng, v.v…Xưa tại Ấn Độ dùng để báo thời gian, cảnh báo. Khi Đức Phật c̣n tại thế, dùng nó để tập họp chúng Tăng Bố tát, nghe pháp…

Trong kinh Lăng Nghiêm:

Đức Phật dạy:

"- Này A Nan, ngươi hăy nghe tiếng trống mỗi khi dọn cơm xong, nghe tiếng chuông mỗi khi nhóm họp đại chúng trong tinh xá Kỳ Đà Hoàn nầy. Tiếng trống hoặc tiếng chuông ấy trước sau nối tiếp nhau. Vậy, theo ư ông, mỗi khi ông nghe được các thứ tiếng ấy là v́ nó tự bay đến bên tai ông, hay tai ông đến nơi chỗ phát tiếng ấy?”. (Đây là lúc đức Phật chỉ cái Tâm cho ngài A Nan)

Ngũ Phần Luật có ghi: “chư Tỳ kheo bố tát, chúng bất thời tập. Phật ngôn: nhược đả kiền chùy, nhược đả cổ…”.

Trong kinh Kim Quang Minh có chép: "Một hôm người Tín Trưởng Bồ tát nằm mộng thấy một cái trống bằng vàng. Trống ấy có chiếu ra hào quang sáng rực như mặt trời. Trong hào quang có rất nhiều đức Phật đang ngồi trên ṭa sen lưu ly đặt dưới những gốc cây quư. Chung quanh các đức Phật đều có trăm ngh́n ức vị đại đệ tử đang ngồi nghe pháp. Lúc ấy có một đạo sĩ Bà la môn đang cầm dùi trống đánh mạnh vào chiếc trống vàng, tiếng trống vang rền nghe như lời kinh sám hối. Khi đă tỉnh mộng, ngài Tín Trưởng Bồ tát liền đem những điều mà ḿnh đă thấy nghe tŕnh lên đức Thế tôn.".

Trung Quốc thời xưa dùng nó trong các dịp lễ lộc, vũ hội…Loại h́nh có to, nhỏ, treo hoặc để trên giá…

Từ đời Đường về sau, theo thanh quy của thiền môn, trống là một trong những loại pháp khí dùng làm hiệu lệnh báo thời sớm tối. Sau này Phật giáo Trung Quốc tiến thêm bước nữa là phối hợp nhịp điệu, âm thanh của tiếng trống ḥa cùng những lời tán tụng, phổ thành nhạc điệu, gọi là "kỹ nhạc cúng dường, trang nghiêm đạo tràng", dùng âm thanh làm Phật sự, trợ giúp đại chúng phát tâm thành kính với Tam Bảo. 

Ai đă đưa trống vào tự viện? Năm nào? Chưa có tài liệu nào đưa ra một giả thuyết khả dĩ đáng tin cậy. Tuy nhiên, dựa vào bản dịch bài Thiền Sư Đại Điên và Hàn Dũ thời Đường Hiến Tông năm 820, chúng ta thấy chuông và trống đă được sử dụng rộng răi trong các nghi lễ Phật giáo. Do đó, ít nhất chúng ta đoán được là trước năm 820, trống đă được đưa vào chùa để làm pháp khí. 

Có hai loại trống: Trống lớn gọi là trống tẩu, nhỏ gọi là trống ứng. 

a. Trống lớn: Dùng để đánh vào những dịp lễ lớn. Trống lớn thường gọi là trống Bát Nhă. Đánh trống lớn có bài kệ của nó. Tiếng trống Bát Nhă đánh lên để cung thỉnh Phật đăng bảo tọa. Bài kệ đánh Trống Bát nhă như sau:

Bát nhă hội,
Thỉnh Phật thượng đường,
Đại chúng đồng văn,
Bát nhă âm,
Phổ nguyện pháp giới,
Đẳng hữu t́nh,
Nhập Bát nhă,
Ba la mật môn.

Nghĩa là:

Hội Bát nhă,
Thỉnh Phật lên ṭa,
Đại chúng đều nghe:
Âm Bát nhă,
Nguyện khắp pháp giới,
Chúng hữu t́nh,
Nhập Bát nhă,
Chứng Ba la mật.

b. Trống nhỏ: Dùng để đánh mỗi khi tụng kinh nên cũng được gọi là trống kinh (tiếng b́nh dân thường gọi là trống cơm). Ngoài việc dùng đánh để tụng kinh hằng ngày vào hai thời công phu khuya và chiều trong các tự viện. Trống nhỏ khó đánh hơn trống lớn. Bài học để sử dụng cho trống nhỏ rất nhiều, phức tạp và khó học. Có rất nhiều thể điệu khác nhau như là thể điệu thiền khi tụng kinh, thể điệu ai khi dùng vào đám táng, chẩn tế cô hồn, ... Nếu không học th́ không thể sử dụng được.

3. Mơ:

Có người cho rằng mơ là do Sa-môn Chí Lâm đời Đường tạo ra, nhưng điều này không lấy ǵ làm chắc, v́ không có sử liệu rơ ràng.

Theo sách Tham Thiền Ngũ Đài Sơn Kư (quyển 3), Tống Thần Tông, Hy Ninh năm thứ 5 ngày mồng 8 tháng 8 ghi: Trong chùa Thanh Thái có thờ tượng ngài Phó Đại Sĩ. Mỗi khi Ngài muốn gặp các vị tu hạnh đầu đà nơi cao sơn, chỉ gơ mơ, chư vị sau khi nghe tiếng mơ ấy liền đến. Sau đó, các tự viện lớn nhỏ dưới chân núi đều dùng mơ để tập họp đại chúng.

Theo sách Tam Tài Đồ Hội của Vương Tích đời Minh có đoạn: "Mơ là loại mà dùng cây khắc thành h́nh con cá, rỗng bên trong, gơ nó sẽ phát ra tiếng, các hàng Phật tử khi tán tụng đều dùng đến nó." 

Theo sách Thích Thị Yếu Lăm ghi rằng: chuông, khánh, bản đá, bản gỗ, mơ đều có khả năng phát ra âm thanh một khi gơ vào và nhờ nghe đó mà đại chúng tập họp nên các loại đó đều gọi là kiền chùy. 

Sách Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy, chương Pháp Khí cũng nói khi dùng cơm hoặc khi phổ thỉnh chúng tăng đều gơ mơ. Từ đây chúng ta có thể hiểu lúc đầu mơ dài (loại 1) được dùng để tập họp Tăng chúng. 

Nhưng v́ sao mơ đều khắc h́nh con cá? Sách Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy nói rằng v́ loài cá suốt ngày đêm đều tỉnh, nên khắc h́nh con cá để mỗi khi gơ, chúng ta tự nhắc ḿnh phải tỉnh thức, chớ có hôn trầm, giải đăi. 

Trong sách Chính Ngôn đời nhà Đường th́ chép:

"Có một người bạch y đến hỏi một vị Trưởng lăo ở Thiên Trúc rằng:
- Tại sao các Tăng xá đều có treo mơ?
Vị trưởng lăo trả lời:
- V́ đ
ể cảnh tĩnh chúng Tăng tại Tăng xá hay tự viện ấy.
Người bạch y hỏi tiếp:
- Nhưng tại sao lại tạc h́nh con cá?
Vị Trưởng lăo không trả lời được. Người bạch y lại hỏi ngài Hộ Biện và được ngài giải thích rằng:
- Loài cá là loài không bao giờ nhắm mắt và thích hoạt động. Cũng v́ muốn cho người tu hành ngày đêm quên ngủ, gắng công tu tập, mau chứng đạo quả nên treo và đánh mơ và cái mơ được tạc h́nh con cá vậy."

Sách Tăng Tu Giáo Uyển Thanh Quy (quyển hạ, phần pháp khí) có ghi lại truyền thuyết rằng có một vị Tăng do phản thầy, huỷ pháp mà bị đoạ làm thân cá, trên lưng con cá ấy lại mọc một cái cây, mỗi khi sóng to gió lớn, khiến thân ra máu, thật thống khổ vô cùng. Một lần nọ, vị Thầy Bổn Sư qua biển, nhân đó nó muốn đ̣i nợ liền nói rằng: Thầy không dạy bảo nó nên nó mới phải bị đọa làm thân cá như thế này, do đó nay nó muốn báo oán. Thế rồi, vị Thầy ấy bảo cá nên ăn năn sám hối, Thầy ấy cũng v́ con cá mà cầu siêu chú nguyện và ngay đêm ấy nó được hóa kiếp. Vị Thầy Bổn Sư liền đem cây ấy đẽo thành h́nh con cá và treo lên để cảnh tỉnh đại chúng. Có thể v́ lư do này các mơ tṛn sau này cũng hay khắc h́nh con cá trên mơ để cảnh tĩnh đại chúng. 

Mơ có hai loại: Mơ có h́nh bầu dục và mơ có h́nh điếu. Tất cả đều được tạc theo h́nh con cá.

a. Mơ h́nh h́nh bầu dục: Mơ nầy dùng để tụng kinh, điều khiển buổi lễ khi đông người tụng được nhịp nhàng.

b. Mơ h́nh điếu: Mơ nầy treo ở nhà trù dùng để báo hiệu khi thọ trai hay chấp tác. Ngoài ra, cũng có một loại mơ rất nhỏ dùng để chư Tăng đi kinh hành gọi là nhiễu Phật. Tiếng mơ vừa giữ cho buổi lễ được trang nghiêm lại vừa giữ cho tâm hồn khỏi tán loạn trong khi hành lễ. Bởi thế, người đánh mơ gọi là Duyệt chúng, tên nầy gọi là làm đẹp ḷng mọi người trong lúc cùng tụng kinh với nhau. Đánh mơ phải học hẳn hoi, đúng điệu và đúng cú pháp của nó.

4. Khánh: Tiếng Phạn là Kiền chùy dịch là chuông hay khánh. Theo lăo Ḥa thượng Tục Sư có thuật chuyện vua Tống thái Tổ cho rằng: Tiếng trống hay làm giật ḿnh người ngủ, nên thay v́ dùng trống, Tống thái Tổ chế ra thiết khánh. Ngày nay trong các tự viện khánh làm bằng đồng chừng bằng cái đĩa lớn, treo trong một cái giá gỗ, thường dùng để báo hiệu trong phạm vi nhỏ, chẳng hạn như để báo thọ trai hay khi thỉnh một vị tăng từ trong liêu ra pháp đường, hay đón rước một vị đại sư hay danh tăng đến tự viện, nghi lễ nầy đi trước là khai lễ gồm nhang, đèn, hoa, quả, kế theo là một vị cầm khánh treo trong giá, vừa đi vừa đánh khánh rồi tiếp theo là vị tăng được rước, có thể có lộng hầu và theo sau mới đến những vị tăng khác tùy theo phẩm trật xếp thành thứ tự.

Những vị tăng nhập đại định, muốn báo cho vị ấy xuất định, người ta cũng dùng tiếng khánh để cảnh tĩnh.

5. Bản: Là một tấm gỗ dầy chừng 2 phân, dài chừng 4 hay 5 tấc, cao chừng 3 tấc, thường được treo trong tự viện, được gơ 3 lần trong ngày: b́nh minh, hoàng hôn và trước khi đi ngủ. Người ta thường thấy những câu sau đây khắc trên bản:

Hăy nghe đây chư tăng! Hăy tinh tiến trong việc tu tập! Thời gian bay qua nhanh như mũi tên; nó chẳng chờ ai đâu !

6. Nghi thức chuông mơ khi tụng kinh.

Hai bên bàn thờ Phật, chuông để bên tay trái đức Phật, mơ bên tay phải.

Trước khi bắt đầu thời kinh, người đánh chuông gia tŕ thỉnh 6 tiếng, để báo cho mọi người biết, chánh điện đă lên nhang đèn xong, mời mọi người giữ 6 căn thanh tịnh vào lễ Phật, tụng kinh.

Khi chủ lễ vào vị trí, bắt đầu niệm hương, thỉnh 3 tiếng chuông, sau đó thấy chủ lễ xá th́ thỉnh 1 tiếng chuông, khi lạy th́ thỉnh 1 tiếng chuông, lúc trán chạm xuống nền th́ dùng dùi chuông gơ vào vành chuông nhưng giữ lại trên vành chuông, không cho âm thanh ngân vang, gọi là dập.

Sau khi Chủ lễ niệm bài Quán tưởng và Đănh lễ, hoặc trước bài Tán Lư Hương: Lư hương xạ nhiệt ... hoặc Tán Dương Chi: Dương Chi tịnh thủy ... hoặc Cử Tán: Chiên đàn hải ngạn ... th́ khai chuông mơ như sau : Chuông thỉnh trước ba tiếng O O O (ba tiếng rời nhau)

Mơ gơ tiếp theo chuông bảy tiếng: –     –     –     –     – –     – (bốn tiếng rời, hai tiếng liền nhau và một tiếng rời ra sau cùng)

Rồi chuông mơ ḥa với nhau như sau O  –  O  –  O  –     –     – –  O (chuông thỉnh trước, mơ gơ sau, sau 3 tiếng th́ chuông ngừng, mơ gơ tiếp theo tiếng thứ tư, năm sáu gơ liền nhau, tiếng thứ bảy của mơ, th́ chuông thỉnh một lượt với tiếng mơ.

Trong mỗi bài kinh, kệ, chú mỗi một tiếng, mơ phải gơ một cái, chú luôn luôn đọc nhanh nên mơ phải gơ nhanh. Bất cứ bài nào cũng vậy mơ bắt đầu gơ vào tiếng thứ 2, thứ 4 và những tiếng tiếp theo, và khi c̣n 5 tiếng chấm dứt th́ mơ gơ rất chậm, rồi gơ liền 2 cái ở tiếng áp chót và một cái ở tiếng chót.

C̣n chuông th́ trong bài dài, thỉnh thoảng thỉnh một tiếng chuông, những bài chú niệm ba lần, bảy lần, mười lần, hai mươi mốt lần, cứ mỗi lần hết là thỉnh một tiếng chuông, c̣n niệm danh hiệu Phật hay Bồ Tát ba lần, mười lần hay nhiều hơn, sau ba lần hay mười lần ấy mới thỉnh chuông (thường chú ư vào vị chủ lễ, khi thấy vị chủ lễ cuối đầu xá, đó là chấm dứt niệm chú hay chuyển sang niệm danh hiệu Phật hay Bồ Tát khác). Cuối mỗi bài kinh, kệ, chú thỉnh chuông vào tiếng thứ 5, thứ 3 và tiếng sau cùng.

Ví dụ :

 Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp
........

Nguyện gii Như O Lai chơn O tht nghĩa O

Khi thời kinh chấm dứt th́ thỉnh một hồi chuông và 3 tiếng rời ra sau cùng. Có nghĩa là giữ cho ba nghệp thân khẩu ư luôn được thanh tịnh.

Một cách khác, nghi thức khai chuông mơ và ư nghĩa như sau.

- Trước đánh ba tiếng (tiên khởi tam),
- Kế nhịp bảy (thứ lôi thất),
- Tiếp đánh ba (tịnh đả tam),
- Giữa đánh mười (trung đả thập)
- Sau cùng dứt bốn (hậu diệt tứ).

* Trước đánh ba tiếng: Nghĩa là chúng sanh do ba nghiệp thân khẩu ư tạo tác mọi điều ác, sau sẽ đọa vào trong ba đường dữ: địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Nhưng cũng có nghĩa là cố trừ ba độc: tham, sân và si để vượt lên ba giải thoát để chứng đắc ba đức: Pháp thân, Bát nhă thân và Giải thoát thân. (Phần nầy giảng lược đi nên không mấy ai biết đến.)

* Kế tiếp nhịp bảy tiếng: Đây là tiêu biểu cho thất chi tội. Về thân th́ có ba: Sát, đạo và dâm. Về khẩu th́ có bốn: Vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt và ác khẩu. Sau khi đă đoạn trừ được bảy tội nêu trên liền chứng được thất giác chi: Trạch pháp, tinh tấn, hỷ, trừ, xả, định và niệm.

* Tiếp đánh ba tiếng: Là phát nguyện tu tam học tức là giới, định và huệ để quyết chứng cho được ba thừa: Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát.

Giữa đánh mười tiếng: Đó là tiêu trừ mười điều ác gồm thất chi tội cọng thêm của ư có ba là mười. Từ đó, chứng nhập mười thân gồm: Bồ đề thân, nguyện thân, hóa thân, lực thân, trang nghiêm thân, oai thệ thân, ư sanh thân, phước thân, pháp thân và trí huệ thân. (Phần nầy, sau nầy giản lược đi, không mấy ai dùng đến và cũng không mấy ai biết để ư đến.)

* Sau cùng dứt bốn: Tức là để tiêu trừ bốn tướng: Sanh, lăo, bệnh và tử để chuyển thành bốn trí:

+ Thành sở tác trí: Tiền ngũ thức (nhăn, nhỉ, tỷ, thiệt và thân),

+ Diệu quan sát trí: Đệ lục ư thức,

+ B́nh đẳng tánh trí: Đệ thất Mạc na thức,

+ Đại viên cảnh trí: Đệ bát A lại da thức.

7. Nghi thức sử dụng chuông công phu

Người thỉnh chuông khai chuông công phu theo bài kệ sau :"

Hồng chung sơ khấu, bảo kệ cao âm
Thượng triệt thiên đ
ường, hạ thông địa phủ
U Minh giáo chủ cứu khổ bổn tôn
Cứu bạt minh đồ Địa Tạng Vương Bồ Tát.
"Án dà ra đế dạ ta bà ha"

Tiếp theo nhập bảy tiếng chuông nhỏ, rồi thỉnh ba tiếng lớn và chậm răi:

o o o o o o o O O O (vô tam)

Theo đó cứ đọc hai câu kệ lại thỉnh một tiếng chuông như sau:

Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới, 
Thiết vi u ám tất giai văn. 
O (thỉnh tiếng chuông thứ nhất)
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông, 
Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác.
 O (thỉnh tiếng chuông thứ hai)
Văn chung thanh phiền năo khinh
Trí huệ trưởng, Bồ Đề sanh.
O (thỉnh tiếng chuông thứ ba)
Ly địa ngục, xuất hỏa khanh
Nguyện thành Phật Độ chúng sanh.
O (thỉnh tiếng chuông thứ t ư)

Tiếp theo đó là thỉnh ba hồi chuông, sau đó người thỉnh chuông sẽ thỉnh từng tiếng sau mỗi danh hiệu Phật, Bồ Tát, hay sau mỗi câu chú.

Cuối cùng thỉnh một hồi chuông và bốn tiếng để báo chấm dứt thời công phu.

O O O O O O O O o o o o o O O O O (dứt tứ)

8. Chuông trống Bát Nhă. Chuông trống Bát Nhă là danh từ dùng để chỉ chuông to, trống lớn, thường chùa có thể xây lầu chuông, gác trống và treo "tả chung, hữu cổ". Thật ra cụm từ Chuông trống Bát nhă là để chỉ cách đánh chuông và trống theo một bài kệ "Bát Nhă Hội". Là một nghi thức hành lễ Phật giáo Trung Hoa truyền sang Việt Nam, có lẽ xuất phát từ Không Tông, do nghi thức rất trang trọng nên dần dần chùa chiền các tông phái khác áp dụng theo. Có nhiều cách đánh chuông trống Bát Nhă, chúng tôi ghi ra một trong những cách đánh ấy:

a. Phần khai chuông trống

- Ba hồi chuông:

Trước khi thỉnh chuông, người đánh chuông nhập bảy tiếng chuông nhỏ, rồi thỉnh 3 tiếng thật lớn, thật chậm răi (1) o o o o o o o O O O (vô tam)

Tiếp theo là thỉnh ba hồi chuông

Lần 1: O O O O O O O O O O O O o o o o o o o o o (lúc đầu chậm lúc sau mau dần và nhẹ tay)

Lần 2: Giống như lần 1

Lần 3: Giống như lần 1, tuy nhiên khi chấm dứt, thỉnh thêm 4 tiếng thật lớn và rời nhau: O O O O (dứt tứ).

- Ba hồi trống:

Trước khi đánh trống nhập bảy tiếng trống nhỏ, rồi đánh ba tiếng thật lớn, thật chậm răi: x x x x x x x X X X (2)

Tiếp theo sau là đánh ba hồi trống: Đánh trống giống như thỉnh chuông trong ba lần 1, 2 và 3 nói ở phần trên.

b. Phần nhập chuông trống (Chuông và trống đánh cùng một lúc):

Khi dứt tiếng trống lần 3, người đánh trống vừa nhẩm đọc bài kệ Bát Nhă, mỗi tiếng đánh một tiếng trống, nhưng hai tiếng sau đánh liền nhau. Người thỉnh chuông, sau mỗi câu kệ thỉnh một tiếng chuông (sau hai tiếng trống đắnh liền nhau, thỉnh một tiếng chuông)

Lần 1:

Bát Nhă hội                            X  XX O
Bát Nhă hội                            X  XX O
Bát Nhă hội                            X  XX O
Thỉnh Phật Thựợng Đường  X  X XX O
Đại chúng đồng văn              X  X XX O
Bát nhă âm                            X  XX O
Phổ nguyện pháp giới           X  X  XX O
Đẳng hữu t́nh                       X  XX O
Nhập Bát Nhă                       X  XX O
Ba la mật môn                     X  X  XX O
Ba la mật môn                      X  X  XX O
Ba la mật môn                      X  X  XX O

Lần 2: Đánh giống như lần 1

Lần 3: Đánh giống như lần 1, tuy nhiên, khi hết câu cuối bài kệ rồi, đánh tiếp theo phần kết thúc:

c. Phần chuông trống kết thúc (3) :

X O X O X O X O X O X O x o x o x o x o x o và sau cùng đánh bốn tiếng trống và chuông chấm dứt (dứt tứ) X O X O X O XX OO (đánh kép)

d. Phần kết thúc:

Lúc khởi đầu, chuông trống Bát Nhă đánh ba hồi, nhưng khi kết thúc buổi lễ cũng như thời kinh chuông trống Bát Nhă chỉ đánh một hồi mà thôi.

d. Một cách đánh chuông trống Bát Nhă khác:

- Mới đầu đánh nhập 2 tiếng: biểu thị NHỊ ĐẾ dung thông (pháp thế gian và pháp xuất thế gian dung thông, không ngăn ngại). 
- 3 tiếng tiếp (mỗi lần 1 tiếng): tượng trưng cho sự khấu đầu quy y TAM BẢO, nguyện dứt trừ tam độc: tham, sân si. 
- 7 tiếng sau đó (v́
tiếng thứ 7 và 8 đánh gấp, tính gộp thành 1 tiếng), tượng trưng cho BÁT NHĂ HỘI THỈNH PHẬT THƯỢNG ĐƯỜNG, tức tác pháp thỉnh Phật thăng toà
- Nếu 7 tiếng này tính thành 8 tiếng: tượng trưng cho câu "MA HA BÁT NHĂ BA LA MẬT ĐA" hoặc BÁT NHĂ HỘI THỈNH PHẬT LAI CHỨNG MINH, tức tác pháp thỉnh Phật chứng minh. 
- Cuối cùng đánh dứt 4 tiếng: tượng trưng cho chứng nhập TỨ ĐẾ.
 

e. Ghi chú:

( 1 ) Dù thỉnh chuông hay đánh trống, luôn luôn nhớ câu: "vô tam, dứt tứ” đây là trường hợp "vô tam" của chuông.

( 2 ) Đây cũng là trường hợp "vô tam" của trống.

( 3 ) Nếu không thuộc bài kệ đánh trống, người tập đánh trống có thể nhớ các lần đánh trống theo cách đếm sau :

- Lần thứ nhất đánh ba tiếng trống
- Lần thứ hai đánh ba tiếng trống
- Lần thứ ba đánh ba tiếng trống
- Lần thứ tư đánh bốn tiếng trống
- Lần thứ năm đánh bốn tiếng trống
- Lần thứ sáu đánh ba tiếng trống
- Lần thứ bảy đánh bốn tiếng trống
- Lần thứ tám đánh ba tiếng trống
- Lần thứ chín đánh ba tiếng trống
- Lần thứ mười đánh bốn tiếng trống
- Lần thứ mười một đánh bốn tiếng trống
- Lần thứ mười hai đánh bốn tiếng trống

Có lẽ khởi đầu chuông trống Bát Nhă chính thức dùng trong nghi lễ lớn của Phật Giáo, hoặc để thỉnh Phật chứng minh cho lễ kỹ niệm lớn, hoặc lễ giới đàn, hay Đại sư đăng đàn thuyết pháp, bởi v́ trong bài kệ có câu "Thỉnh Phật thượng đường", ngày nay người ta c̣n dùng để đón rước chư Tăng. Dẫu cho là đón rước Đại Sư hay Danh Tăng đến viếng chùa, có lạm dụng chăng?

III. Kết luận: Người Phật tử tưởng nên biết về cách bài trí, về nghi thức chuông mơ, chuông trống Bát nhă, để sử dụng khi tụng kinh ở chùa hoặc ở nhà. Có khi cần thiết để giải thích cho người khác được biết về ư nghĩa cho tường tận.

Tài Liệu tham khảo:

Thích Giác Duyên Lịch sử và ư nghĩa Chuông Trống Bát Nhă Nguyệt San Liên Hoa số 405 tháng 5 năm 2004.
Thích Tín Nghĩa Pháp Khí Và Pháp Phục Nguyệt San Liên Hoa số 405 tháng 5 năm 2004.
Tuệ Viên: Ư Nghĩa về Chuông Mơ trong đạo Phật
Nguyệt San Phật Học số 76 tháng 11 năm 2000
Minh Đức Bùi Ngọc Bách Nghi thức sử dụng Chuông Trống Bát Nhă Đặc san Viên Dung, Đoàn Huynh Trưởng Truyền Thống GĐPT/VN Miền Nam California, USA, mừng Thành Đạo 2538

Chánh Hạnh
Tháng 5-29-2004

Trở về Mục Lục