THỬ TM HIỂU BỞI ĐU M C DANH TỪ SI GN

Vương Hồng Sến

(Trch trong SI GN NĂM XƯA)

Cuộc mở mang bờ ci giải quyết xong, nay bắt qua tm hiểu về lai lịch đất Si Gn.
Về danh từ SI GN
Đại Nam Quốc m Tự vịcủa Huỳnh Tịnh Của viết:
__:Si tức l củi thổi.
__:Gn tn loại cy c bng nhẹ xốp, nhẹ hơn bng thường, trong Nam hay dng để dồn gối, dồn nệm, ngoi Bắc gọi lcy bng gạo (kapok, kapokier).
Điều nn nhớ l thuở cựu tro, mỗi lần chạy sớ tấu ra kinh, mỗi moxi lấy Hn tự lm gốc. Cc quan trong Nam thuở ấy, để gọi thnhSi Gn đều viết hai chữ nm như vầy _________. Viết lm vậy, nhưng đến khi đọc th lun lun đọc lSi Gn. Về sau, c nhiều người, đọcSi Cn, tưởng rằng đng. Ngờ đu, đọc như thế l phản người xưa, ti muốn ni những người cố cựu miền Nam của đất Gia Định cũ. Cũng như c một ng tướng tn lV Tnh , vốn người G Cng, nay rất nhiều người đọc tn ng lVũ Tnh . Lại như tn một tri ni trn Bin Ha, thuở no đến nay, quen gọi lni Chu Thới. Nay thường nghe nhiều học giả đọc v viết ni Chu Thi, chng ti khng dm ni g, nhưng thiết tưởng đến ng Trời cũng phải chịu! Cn đến như nguyn do lm sao cổ nhn khi trước ghp chữ HnSi ____ với một chữ Nm"Gn" _____lm vậy th th thật ti xin chịu b! Ni nhỏ m nghe, dốt nt như ti, ti hiểu rằng khi ng b ta thiếu chữgn khng biết phải viết lm sao, th ng b cứ mượn chữcn thế tạm, c hại g đu, hại chăng l ngy nay con chu khng muốn đọc y như ng b lại dm ch xưa kia ng b ta qu dốt!
Cũng trong Tự Vị ng Huỳnh Tịnh Của, cn thấy ghi hai chỗ khc nhau về danh từ Si Gn:
Si Gn:tn ring đất Chợ Lớn, by giờ lại hiểu l đất Bến Ngh (trang 280 quyển II).
Si Gn:tn xứ ở về tỉnh Gia Định (trang 390 quyển I).
Ti xin hẹn sau sẽ giải nghĩa việc ny. Điều nn ch liền đy l bộ Tự vị Huỳnh Tịnh Của in vo năm 1895-1896 cho ta thấy r đời ấy đ c sự lẫn lộn về danh từ Si Gn rồi.
Để tm hiểu su rộng v muốn biết rnh rẽ về nguồn gốc tch SI GN, phải dy cng phăng từ ngọn ngnh, căn cội v chịu kh tra cứu từng cc dn tộc một, đ sống qua cc thời đại trải khng biết mấy ngn năm v thay nhau khai thc ci Nam ny:
1) người Ph Nam,
2) người Cam Bốt,
3) người Tu,
4) người Việt.
1. Trước hết, từ giống người Ph Nam[18]
Thời cổ đại, theo sử Trung Quốc ghi lại, th c giống người Ph Nam chiếm cứ sơ khởi vng gọi Ph Nam. Đất Ph Nam sau đổi lại l Thủy Chn Lạp (le Chan-la des eaux ou Basse Cochinchine) để phn biệt với đất Lục Chn Lạp (le Chan-la des montagnes ou Cambodge).
THỜI ĐẠI NY, ĐẤT THỦY CHN LẠP CN L RỪNG RẬM SNH LẦY, THNH SI GN CHƯA C.
Khoảng năm 1943 1944, nh học giả Php, ng Louis Malleret nhn danh l hội vin trường Viễn Đng Bc cổ v Gim đốc viện Bảo tng Si Gn c thn hnh đến chặng giữa đường Long Xuyn đi Rạch Gi, noi dấu bọn thổ dn đ đến chỗ ny nhiều thng trước để bn vng... Nơi đy, ng tm ra di tch một nền cổ Ph Nam bị chn vi dưới đất từ ngn xưa. ng c đem về Viện Bảo tng rất nhiều mn đồ nữ trang, cổ vật, trang sức phẩm v rất nhiều ti liệu cổ c chơn gi trị về lịch sử (đồ đất nung, dt nấu kim kh, miểng bt chn, phao lưới, tri tr lưới (poids de filet), cục đ căng nặng xe chỉ sợi (fusaiolus), v.v...), hiện cc vật ny trưng by lm một gian phng ring biệt trong Viện Bảo tng Si Gn. Nhờ đ, ta biết được cội đất nước ta v biết tại đy xưa kia vo thế kỷ thứ hai, người dn La M đ tm theo con đường biển thả tu buồm đến đy v đ từng đặt chn trn đt ny cũng như họ đ từng giao thiệp chặt chẽ cng thổ dn bản xứ. Họ (người La M, Ấn Độ di cư, M Lai, Ph Nam, v.v...) qua lại đổi chc với nhau, tỷ như vng khối xứ Chim Thnh (lor du Cathay), lụa Trung Quốc (soie de Chine), hoặc hương liệu (pices): sa nhn, đậu khấu vng Khmer (ni Cardamomes rất gần). Đặc biệt nhất l c một đồng vng tm được tại chỗ v đ l một ti liệu qu ha nhất chứng minh cho thuyết ni trn. Đồng vng ấy mang dấu hiệu của vua Antonin le Pieux, sinh năm 86 v trị v tại La M từ năm 138 đến năm 161 Ty lịch kỷ nguyn. Hiện thời, cc nh thng thi tạm lấy chỗ tm được cổ vật m đặt tn cho cc vật tm thấy, gọi đồ thuộcvăn minh c-Eo. (theo chnh tả Việt Ngữ. Nếu viết theo Phạn tự v theo giọng Khmer th l K EV). Nay c-Eo thuộc về lng Mỹ Lm, tổng Kin Hảo, gip ranh hai tỉnh Long xuyn v Rạch Gi. Từ năm 1945 c chiến tranh, sự giao thng bất tiện, thm thiếu điều kiện bảo thủ canh gc nn người tại chỗ đ đo đ hi rất nhiều... Kh m tiếp tục sưu tầm, tiếc thay![19]
 
2. Nối chn Ph Nam trn vng Thủy Chn Lạp l người Cam Bốt.
 
Khng ni đu xa, từ đầu thế kỷ thứ XVII, người Cam Bốt đ c mặt tại vng Si Gn lu rồị Nhưng họ khng khai thc chi cả. Họ chỉ ăn hoa lợi tự nhin: th rừng, lm sản; l lợp nh, cy lm củi, v.v... Bằng cớ hiển hiện l khi lọt về tay người Việt, Si Gn vẫn l một thn qu rừng, ruộng, v danh.
Nghiệm ra rằng người Khmer sanh đẻ tại Nam Việt, pht m khng giống y giọng Khmer trn Nam Vang. Tnh trạng ny c thể so snh lại với tnh trạng người Việt vng C Mau Bạc Liu giọng ni vẫn khc giọng Si Gn hoặc giọng H Nộị Đối với tiếng Khmer, trn Nam Vang, dng nhiều chữ r c thể ni mỗi tiếng ni, gần như mỗi c đnh lưỡị Tri lại miền Nam Lục Tỉnh, dn Khmer nuốt gần mất chữ r. Tỷ dụ trn kia ni Pram riet (l 5 đồng bạc) th dưới ny họ ni Pam yiel, v.v... chưa quen tai, khng hiểu họ muốn ni g.
Bởi rứa, về danh từ Si Gn đối với người Cam Bốt, khi họ gọi:
a)Prei Kor
(nếu họ l người Nam Vang)
b)Prei Nokor
hoặc
c) Pẹi ừ Ko
(nếu họ l người Khmer Lục Tỉnh)
d) Pẹi - ằng ko
Khiến người Việt ta điếc con ry v... kh phn biệt được.[20]
Vả trong bốn cch pht m trn, tưởng cần ghi lại hai cch Nam Vang, c phần khoa học, đng tin cậy hơn, nhưng trong hai cch ấy cũng chưa phn biệt cch no đng nghĩa của người xưa.
Prei, prey: rừng, khng cn ai chối ci.
Kor: K, Ku: c hai nghĩa khc hẳn nhau:
Khi kor lgn , Prei-kor l Rừng gn.
Khi khc thKor:Kũ: boeuf, Prei-Kor tức l Rừng b?
C một tỷ dụ: Bockor: buk kũ: boeuf bosse: b u. Cố Tandart, snh về Min ngữ, lại cắt nghĩa: Nokor do Nagaram tiếng Nam Phạn (Pli), đồng nghĩa với chữ thnh Việt Hn tự trong cc danh từ: thnh thị, đ thị (cit); thnh phố (ville).
Một tự vị Min Php nữa dịch: Nokor: royaume: quốc. Vậy th: Prei-Nokor l lm quốc.
Cc thuyết trn cho php ta định chừngNokor l giọng kinh chợ, giọng cc nh hay chữ thng thi trn Nam Vang, chớ người Khmer... miền lục tỉnh, nước phn cứng lưỡi, quen ni trại bẹ, thuở nay, để m chỉ Si Gn, họ dng một danh từ lơ lớ nghe tương tự Pei-ừ-ko hay Pẹằng-ko khng r chắc được.
Bằng như c ai hỏi họ st đề qu, để trnh ci kh, họ dng một danh từ khc, r rệt khng cn chối ci v lầm lộn nữa, ấy l danh từ srock yuong ta m ra Sốc Duồng để chỉ xứ Si Gn.[21]Lấy theo điểm ny v căn cứ hai chữ nn thơ Srock yuong, th người Cam Bốt tự ngn xưa đ ngấm ngầm nhn nhận đất Si Gn l lnh thổ Việt Nam khng chối được. Dn Khmer Lục Tỉnh l người tr c mộc mạc chất phc, người củi lục lm ăn, khng biết ni lo v khng biết ngụy biện!
Do cc thuyết Lang sa kể trn, ta c thể kết luận:
Dưới thời đại cam-bốt-din, Si Gn l nước, xứ ở giữa rừng (Prei Mokor ). Vịn theo thuyết ny danh từ Si Gn, trước định do Prei Nokor l rừng gn khng vững[22]. Nay nn dịch lm quốc đng hơn. Tm lại. danh từ Si Gn khng ắt do điển Prei Nokor m c.
 
3. Theo dấu người Tu, năm 1680 đến miền Nam, năm 1778 lập Đề Ngạn.
 
Từ 1680, đ c dấu chn Hn tử trn dy đất miền Nam nhưng họ lui tới đng đảo trn vng Si Gn nhất l từ năm 1778.
Ti liệu ny thấy r rng trong bộ sch Annuaire de la Cochinchine Francaise pour lanne 1866. Nơi trang 83 v 84 của quyển sch hiếm c ny, mục ni về thnh phố CHỢ LỚN, tc giả l hải qun Trung y Francis GARNIER, thanh tra chnh trị bản xứ, viết nguyn văn bằng tiếng Php, ti xin sao lục ra đầy đủ sau:
CHOLEN.- Vers la fin du XVIIe sicle, plusuieurs milliers dr Chinois prfrant lexil la domination tartare, partirent de Canton, pour demander des terres lempereur dAnnam. Celui-ci leur dsigna la Basse Cochinchine: il se dbarassait de la sorte dune multitude trop hardie pour ne pas devenir bientt dangereuse, et en faisait, en mme temps, lavantcoureur de ses projets de conqute sur le Cambodge. Les megrs se dirigrent donc vers le pays de Gia Dinh, et stablirent Mitho et Bien Hoa. Ce dernier point se dveloppa rapidement sous leur influence, et lile Cou-lao-pho devint le pint frquent o chaque anne de nombreuses jonques vỉnent entreposer leurs marchandises.
A partir de ce moment, on voit les Chinois jouer un grand rle dans toutes les guerres qui eurent une partie de lIndochine pur thtre, et, aussi redouts comme adversaires, imposer parfois des conditions aux diverses parties belligrantes. Ce fut ainsi que, peu prs la mme poque, le Chinois MAC CUU sempara de Hatien, sur le Cambodge, pour le compte de la cour de He, et recut de celle-ci, pour lui et ses descendants, linvestiture de la province dont cette ville est la capitale. Hatien devint bientt peuple et florissante et garde encore, aux yeux des Annamites, cette rputation dlgance et de civilisation dont la colonisation chinoise a toujours eu le prestige pour eux.
Un sicle plus tard (1773), la rvolte des TYON quiectala tout, dabord dans les montagnes de la province de Qui-Nhon, et stendit repidement dans le sud, chassa de Bien-Hoa le mouvement commercial quy avaient attir les Chinois. Ceux-ci abandonnrent Cou-lao-pho, remontrent de fleuve de Tan-Binh, et vinrent choisir la position actuele de CHOLEN. Cette cration date denvinron 1778. Ils appelrent leur nouvelle rsidence TAI-NGON ou TIN-GAN. Le nom transform par les Annamites en celui de SAIGON fut depuis appliqu tort, par lexpdition francaise, au SAIGON actuel dont la dnomination locale est BEN-NGHE ou BEN-THANH.
Mais la rbellion ne sarrta pas la conqute de la province de Bien-Hoa: le chef des TAY-SON Nguyen Van Nhac pntra peu aprs dans la province de PHAN-YEN (Gia-Dinh), battit les troupes impriales, et passa au fil de lpe tous les Chinois tablis Saigon (1782).
Il en prit plus de dix mille, dit lauteur du Gia Dinh Thanh thung chi, qui nous empruntons tous ces dtails; la terre fut couverte de cadavres depuis Ben-Nghe jusqu Saigon, et comme on les jetait dans la rivire, elle en fut rellement arrte dans son cours; personne ne voulut manger du poisson pendant un escape de temps qui ne dura pas moins de trois mois. Les marchandises de toutes sortes appartenant aux Chinois telles que th, toffes de soie, remdes, parfums, parpiers, joinchrent la route pendant longtemps, sans que personne ost y toucher. Lanne daprs (anne Qui-Meo - 1873), le prix du th slevait jusqu 8 ligatures la livre, une aiguille coutait jusqu 1 tayen; toutes les marchandises augmentrent de prix proportion (Traduction AUBARET).
On peut juger par ces lignes de lhistorien officiel de Gia-Dinh, de limportance quavait dj cette poque a colonie chinoise de CHOLEN, et dans quelle dpendance du commerce chinois tait tombe la contre entirre.
Quand GIA-LONG, maitre enfin de ces tats, eut rtabli la paix dans les provinces de la Basse Cochinchine, Cholen recouvra bientt toute son activit et toute sa richesse, et la persvrance chinoise, triomphant des restrictions commerciales et des vexations de tout genre, en fit bientt la march le plus important des six provinces. La dfense dexportation tendue presque toutes les denres autres que le riz, ldit qui limitait le nombre des Chinois, les lois somptuaires qui leur taient appliques, ne lassrent ni leur habilet, ni leur gnie commercial. Toutes mesures qui netaient, dailleur, pour les mandarins que des occasions de corruption de plus, nempchrent pas les Chinois de construire leurs frais Cholen des quais en pierre sur une tendue de plusieurs kilomtres, et de contribuer pour une part considrable au creusement de canal destin relier le Binh-Duong ou Vam-Ben-Nghe (arroyo Chinois) au Ruot-Ngua qui aboutit au Rach-Cat (1819). Le-Ruot-Ngua avait t lui mme canalis en 1772. En mme temps, on acheva les travaux de larroyo de la Poste, dont le creusement avait t bauch des 1755. En 1820, la route commerciale du Cambogde Saigon par Mitho se trouva compltement termine, et partir de ce moment, Cholen redevint lentrept ncessaire de toutes les denres de cette riche zone (Annuaire de la cochinchine Francaise pour lanne 1886, pages 83-84).

Cứ theo thuyết ny, người Tu dng thuyền buồm chuyn chở hng ha, tơ lụa, tri cy kh v tươi v.v... của xứ họ qua dự trữ tại C lao Phố (Bin Ha). (22) (Mi về sau, họ vẫn dng thuyền cy chạy buồm để chở la gạo, c kh, trầm hương của Nam Việt qua Trung Quốc, v bận trở về Nam nếu khng đủ tơ lụa hng ha, họ cn c sng kiến chở đ, gạch, đồ gốm, để vừa cho thuyền đủ sức khẳm sng t nhồi, vừa c đủ đồ dng để xy cất cha chiền tại Việt Nam y một thể thức như bn xứ họ). Vo thời ấy, người Tu vẫn l những tay lợi hại v đắc lực m trợ mọi cch v cả hai bn vo cc cuộc nội loạn miền Nam. C thể ni hễ họ dựa vo bn no l bn ấy c phần chắc thắng địch thủ dễ dng. Dn chng nể uy danh họ v king sợ v lực bạo tn của họ, thậm ch cc tay lnh tụ đương thời: Nhạc, Huệ, Nguyễn nh cũng lợi dụng họ để mượn thế lấy gio Tu đm Chệc cho họ st hại lẫn nhau bớt. Xt ra đời no cũng c họ m trợ ta chống lại Trung Quốc với danh nghĩa di thần Minh Mạt, họ l người gốc Hn tộc lại tả rất sướng tay lnh để đui sam Mn Thanh v biết đu chừng, trong trận Đống Đa, h chẳng c qun sĩ Tu hươi m tấu m trợ vua Quang Trung đnh giặc Chệc!
Cũng như dưới danh từ hội kn, như gần đy c Thin Địa Hội, no Nghĩa Ha Đon, no Nghĩa Hưng Đon, từ ngn xưa họ đ từng lm mưa lm gi một thời v đnh giặc mướn cho cả hai phe, khi theo cha Nguyễn nh, khi theo Ty Sơn Nhạc Huệ v về sau cng, th c họ np dưới bng cờ Đen, trợ gip triều đnh Huế chống qun đội Php thời Tự Đức, v np dưới hiệu lịnh Tư Mắt, Phan Xch Long ph khm cũ Si Gn v lm phản chống chnh phủ Đ hộ Php lối 1914-1915. Anh hng bất đắc ch, sẵn tnh phiu lưu, họ cư xử khng khc cc nhn vật, cc đại ca trong truyện Tu bất hủ, khi lm tướng cướp khi lại tế khổn ph nguy! Nhưng cũng bởi tnh ăn ở khng minh bạch, nn khi Ty Sơn nổi dậy (1773), ko cờ bch thắng vo Nam, thuận tay, họ bn qut đuổi qun Tu ra khỏi C lao Phố (Bin Ha) l nơi tn qun Minh đến lập cơ sở từ năm 1680. Khi ấy, những khch thương Tu mất chỗ bn rt lui theo con sng Tn Bnh (Bến Ngh), họ nhắm xem địa thế, cn nhắc kỹ cng thin thời địa lợi v sau rốt họ lựa vng đất ở giữa chẹn đường Mỹ Tho đi C lao Phố m xy dựng tn sở, tn sở ny sau trở nn thnh phố Chợ Lớn ngy nay vậy. Tc giả Grancis Garnier, quả quyết: THỊ TRẤN CHỢ LỚN DO NGƯỜI TU TẠO LẬP VO NĂM 1778 ĐY THI. Thị trấn ny vừa pht đạt chưa được bốn năm năm đến 1782, th ngộ nạn lớn: năm ấy, cha Ty Sơn Nguyễn Văn Nhạc đnh lấy được thnh Phan Yn (Gia Định), thừa cơ lm cỏ sạch người Tu một phen nữa (Sở dĩ Ty Sơn giận dai như thế, theo một giả thuyết ti được nghe gia nghim kể lại, c lẽ một phần do hậu quả những cờ gian bạc lận giữa cc tay tổ Tu v Biện Nhạc năm xưa, một phần khc quan trọng hơn, l lại đ khng tiếp tay chống Nguyễn nh m cn tiếp tế lương phạn, v.v...). Sau trận giặc 1782, theo Trịnh Hoi Đức thuật lại, th hng ha cc tiệm bun Tu như tr, vải lụa, thuốc men, hương liệu, giấy m đủ loại bị tun ra bỏ bừa bi lềnh khn ngập đường s, hn lu như vậy m khng ai dm rớ dm mt lượm về xi. Qua năm 1783, gi hng ha vụt ln m ngợp: kim may mỗi cy một lượng bạc, tr Tu tm quan tiền một cn,... Cn ni chi số binh sĩ v thường dn Tu bị chết đm chết lụi kể trn số mun, thậm ch thy ma lớp nằm chật đất, ngổn ngang từ vm Bến Ngh đến tận kinh Chợ Lớn, lớp khc bị chuồi xuống nước, xc ma da, thằng chỗng kẹo lềnh một khc sng, lm cho ngt ba bốn thng trường, dn nghe nhắc m ớn xương sống khng dm rớ đến miếng thịt xương thịt c! Nhưng người Tu quả l giống dn giu tnh nhẫn nại nhất thế giới: tnh coi họ thất bại to tt lm vậy m họ khng bỏ cơ sở lm ăn. t lu sau họ gầy dựng lại cơ sở Chợ Lớn, c mi sung tc thịnh vượng hơn trước b bội. Họ lấy đất đắp thm bờ kinh chỗ mới tạo lập, cẩn đ thm cao ro v kin cố. V c lẽ để ghi nhớ cng trạng ny họ đặt tn chỗ mới l Tai-Ngon, hoặc Tin-Gan, m pht m theo giọng Quảng Đng th nghe ra Thầy Ngồnn hay Th Ngn. Xt theo mặt chữ, th Tai-Ngon, Tin-Gan, Thầy Ngồnn, Th Ngn đọc theo giọng Việt l Đề Ngạn:
Đề, Đ: l ci bờ, ci đ ngăn nước.
Đề:cũng c nghĩa l nắm lấy (Đề cương khiết lnhl nắm lấy ci dy lớn của ci lưới, tức nhin cả ci lưới sẽ trương ra; ko ci cổ o th cả chiếc o nhấc ln. Nghĩa bng:nắm lấy chỗ chủ yếu . Kể ra khi đi lựa địa thế, đ l đặt cả một hy vọng lớn rồi.)
Ngạn:bờ sng cao dốc.
Đề Ngạn l vng Chợ Lớn cũ ngy nay vậy (truy ra l xm Quảng Đng Nhai chỗ miếu Quan Đế, miếu Tam Hội).
Cn khi khc nữa, họ dng danh từ Ty Cống m họ pht m nghe Xi-con hoặc Xy-con (theo giọng Quảng). Theo ti đy l cch pht m giữa người Tu với nhau để m chỉ vng đất m người Php hiểu l Si Gn ngy nay, vng ghi theo tiếng "Si Gn" do giọng Tu, vng của người Việt ăn v ở, vng ấy tức l vng chợ cũ Si Gn, ngt trăm năm về trước, xưa kia thuở Nam Triều gọi l "Chợ Vải", thuộc khu phố lầu chung quanh Tổng Ngn khố ngy nay: đường Nguyễn Huệ, Ng Đức Kế, V Di Nguy, Phủ Kiệt, ăn lan ra phố Kinh lấp (Hm Nghi), v.v... v đy l cch nhi giọng ni, nhại tiếng Si Gn của ta, chớ khng đng theo chữ viết sẵn _________. Xi-con giọng Quảng viết ra Hn tự thnh Ty Cống như vậy l chắc chắn rồi! Xin đừng hiểu theo một văn sĩ trẻ, giu c tưởng tượng nhưng tng đề, ghi trn tạp ch Phổ thng độ nọ cắt nghĩa Ty Cống l thnh tr của vua Tự Đức ngy xưa cống hiến cho Ty!Ti khng theo phi bảo hong nhưng tưởng viết lm vậy, nhơ ngi bt, nhục quốc thể, người nước ngoi cười; thm đắc tội với tiền nhn.
Tm lại: Ty Cống ________, Xi-con, l xm Việt, Si Gn của người Nam, khng phải xm Tu trong Chợ Lớn, tức Thầy-Ngồnn, chữ viết đọc l Đề Ngạn.
C nghe người Tu khi ni chuyện với nhau, khi rủ đi chơi vng Si Gn; họ ni gọn lỏn hui Ci Xị, m Ci Xị ở dy l nhai thị tức chợ, hoặc giả họ ni xnh ci xị l tn nhai thị, tức l chợ mới(chợ Việt mới). Khi no muốn m chỉ Chợ Lớn Tu, họ lại dng danh từ Thầy Ngồnn, l Đề Ngạn vậy.
Việt ta ni: SI GN.
Tu họ ni: THẦY NGỒỒN, X CỤN.
Ai muốn hiểu thế no th hiểu!
Gần đy hơn hết, khi hai đ thị st nhập lm một Ty Cống dồn với Đề Ngạn lm một khối duy nhất, Tu họ dng một danh từ hết sức gọn v sng, ấy l Ty Đề.
 
Trở lại dấu vết tổ tin Việt.
 
Ci lộn xộn rắc rối lm cho ngy nay chng ta đin đầu kh biết địa điểm đu l Si Gn chnh thức, truy ra, cũng tại Lang sa m c!
1.Thnh Si Gn do Minh Mạng dạy xy năm 1836, vị tr ở gần Ba Son.
2.Chợ Bến Thnh (ở gần bến v thnh) phn ra hai chợ:
a. Chợ Cũ ở chỗ Tổng Ngn Khố ngy nay, do Chợ Vải ngy xưa Ty cất lại bằng gạch v sườn ko sắt, ph bỏ năm 1913.
b. Chợ Mới l chợ ngy nay quen gọi Chợ Mới Bến Thnh, Tu gọi "Tn Nhai thị" hay vỏn vẹn "Ci Xị", khởi cng năm 1912, đến thng 3 năm 1941, chợ cất rồi, ăn lễ lạc thnh, tiếng đồn rm beng c cộ đn, chưng cộ bảy bang, xe bng, ht ngoi trời v.v...; cc bi bo viết mừng bi "mừng lễ khai tn thị" xướng họa khng dứt.
3. Hai vng ny gộp lại c tn l Bến Ngh.
Trong lc ấy th người Tu dng danh từ Thầy Ngồnn (Đề Ngạn) để gọi vng bun bn Chợ Lớn v danh từ Xi-Con (Ty Cống) để m chỉ xm Việt tức chợ Bến Thnh (từ xưa đến 1919 sự bun bn vẫn nằm trong tay Hoa kiều, người Việt bắt đầu qua nghề thương mi chỉ từ 1920 về sau).
Kịp đến buổi Ty qua, đứng trước danh từ Bến Ngh v Si Gn th hai chữ Bến Ngh đối với Ty lu lưỡi kh ni qu, nn chỉ sẵn uy lực kẻ chiến thắng trong tay, Ty bn p cc sắc dn Nam, Ch, Chệc đều phải bỏ danh từ Bến Ngh, v để thay vo đ, Ty p dng hai tiếng Si Gn[23], vừa ku gin, vừa dễ đọc (cũng như họ đ đọc v ni Cholen thay v Chợ Lớn, rồi đọc v ni Da Kao thay v Đất Hộ. Dn ta bắt chứơc theo m cn ăn ni mạnh dạn hơn nữa, cho đến ngy nay họ đi rồi m cc danh từ ngoại lai ny chưa hết hẳn). Một lc, để chọn tn dặt cho kinh đ Nam Việt, Ty đ nghĩ đến danh từ Gia Định nhưng họ lại ch l di tch cựu tro, khu gợi chuyện xưa nn họ khng dng. Kế đ, họ muốn chọn danh từ B Chiểu, nhưng họ cũng khng thu nhận v B Chiểu như Gia Định l tn cũ của tro xưa, họ cố trnh, lại nữa khi viết lại viết thu, hoặc dng gởi điện tn, sợ e c khi đọc hiểu lầm l Bạc Liuth khốn.
Tm lại, danh từ Si Gn trở nn bất tử v người Việt, người Tu trong lc đm thoại với Lang sa hoặc viết thơ hay k giao ko với họ; một nửa chiều người mới, một nửa nịnh Ty, bn dng lun danh từ Si Gn thay thế danh từ Bến Ngh, lu ngy quen tai quen mắt v cng phổ biến rộng thm mi, khiến nn Si Gn đ son ngi Bến Ngh v Bến Ngh thỉnh thoảng chỉ cn nghe ni trong giới người cố cựu đất Gia Định chnh cống m thi.
--------------
[18]Về danh từ Ph Nam, c đến hai thuyết khc nhau:
a Trong sử Tu, gọi đ l đất Ph Nam, tức xứ Nam nổi ph. Đời Thượng Cổ, vng đất ny c lẽ quanh năm ngập lụt, khng ai thấy được: đất chỉ lồi ln khỏi mặt nước cho ng thấy vo ma hạn, khi nước rt đi hết v trời dứt mưa.
b Nh lo thnh, thng thi người Php, ng G.Coeds lại cắt nghĩa: Ph Nam do tiếng Khmer Phnom đọc ra lm vậy. (Cn trong vng ci cọ, chưa thuyết no ng ngũ nhất định).
c Theo cố học giả người Php Pierre Dupont, th xứ Ph Nam gồm đất Nam Kỳ cũ (Thủy Chn Lạp), đất Cao Min (Lục Chn Lạp) v một phần xứ Xim La, v Ph Nam l một nước c từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ V sau Gia-t. (BEFEO, năm 1959, tập II, trang 635)).
[19]Muốn biết rnh rẽ, nn chờ xem bộ luận n thi Tiến sĩ của học giả Malleret, đăng trong tập kỷ yếu Trường Viễn Đng Bc cổ (Bulletin de lEcole Francaise dExtrme-Orient) đang in. Theo tc giả, sẽ gồm bốn tập lớn. Hiện nay Viện Bảo Tng Si Gn đ nhận tập thứ nhứt chia lm hai quyển nhan đề: "L exploration arche ologique et les fouilles d Oc-Eo", Paris 1959, Tome Premier, "Texte", Tome Premier "Planches" (Sch tham cứu khảo cổ ni về cuộc đo tm cổ tch tại Oc-Eo, tập nhứt chia ra một quyển về luận văn, một quyển về hnh ảnh.)
(Nay trọn bộ đ xuất bản rồi.)
[20]Ti xin sao lục ra đy đoạn Php Văn ni về điển ny:
" sur les origines de cette dnomination ghographique, les hypotheses les plus ingnieuses ont et avancẹ Selon Ptrus Ky, qui prtend avoir dcouvert cette interprtation dans l ouvrage de Trịnh Hoi Đức, les deux caracteres
Saigon, signifieraientbois des ouatiers , contenant ainsi une allysion aux nombreux kapokiers qui se rencontraient, parait-il, autregois dans la rgion. Le Đốc-Phủ-Sứ L Văn Pht avait cru pouvoir pousser cette interprtation trs loin, et en dduire que l Plaine des Tombeaux avait t jadis une fort inpuisablẹ Comme dans le domaine des tymologies on n en est gure une hypothese, l abile Đốc-Phủ n avait pas manque de soliciter le sens des mots de desverses facons, afin d en tirer une explication propre satisfaire des exugenees de son esprit. Il en rsultait que Si Gn pouvait tre driv du nom cambodgien Prei Kor (a) qui signigie fores des kapokiers.Il pouvait tre aussi l adaptation des mots siamois Cai-ngon, c est-đire brousse des kapokiers, que les Laotiens emploient encore, affirmait-il, pour dsigner la capitale de la Cochinchine (b).
"En ralit, l ancienne ville cambodgienne, dont la tradition a conserv le souvenir, s appelait Prei Nokor, dsignation qEtienne Aymonier traduit par les termes fort royalẹ mais que le P. Tandart, dans son dictionnaire cambodgien-francais, propose de reprsenter par l expression ville de la foret, en rapportant Norkor au mot pali nagaram qui quivaut cit, ville ou forteresse".
a) - Seule notre connaissance, Adhmard Leclere, a mentionn le nom de Prei Kor qil a identifi Prei Nokkor dans le Sdach Kan, bulletin de la Socit des Etudes Indochinoises, deuxieme semestre 1910, page 26. Prei Kor pourrait se traduire plutt par Fort des bouefs que par Fort des Kapokiers.
b)- Note sur l rymologie du nom de Saigon - extreme- Asie, octobre 1931. page 227-229. Dans une revue ephmere Tourisme, publie Saigon, diverese tymologies avaient t antricurement proposes. ef N.16 ( 7 Aout 1925)
[21]Srock biến ra tiếng Việt l Sốc tức xứ của người Min ở. Về sau, sốc nghĩa l xứ, vng. Tỷ dụ: Sốc thổ, sốc mọi, sốc việt (Sock yuong). Về danh từ Yuong hay Yunn hoặc duong, chưa ai giải nghĩa nghe ổn thỏa. C thuyết cho duong do tiếng Phạn trong Yuong na tức l người ngoại kiều. Cắt nghĩa lm vậy e thng thi qu, sợi tc chẻ lm đi, theo ti phải chăng duong do tiếng cht danh từ An nam quốc vương của vua cha ta dng để xưng h đời trước m c. Người Khmer quen ni tiếng một, danh từ An nam quốc vương qu di dng bẻ miệng, bẻ mi, kh ni, nn họ dng gọn chữ vương cũng đủ v vương biến lần yuong v.v... C danh từ năm 1945-1946 người Min dng lm khẩu hiệu l Cp duồng. Cp l chm đầu, Cp duồng l chm đầu thằng Việt! ).
[22]Trong tập Souvenirs historiques cụ Trương Vĩnh K quả quyết người Khmer xưa c trồng gn chung quanh đồn Cy Mai v chnh người cn trng thấy vi gốc cổ thụ ny tại vng ấy năm 1885.
[23]Hồi đời Linh mục B Đa Lộc đ năng dng danh từ Si Gn trong thư tn nhưng đến lối 1860 danh từ ny mới phổ biến rộng v thống nhất.